Giá lúa gạo tại các tỉnh Đồng bằng sông Cửu Long vẫn giữ ổn định


(CHG) Hôm nay 16/8, giá lúa tại các tỉnh Đồng bằng sông Cửu Long vẫn giữ vững như ngày hôm qua, thấp nhất là lúa IR 504 ở mức 5.300 đồng/kg.

Theo đó, giá lúa tại An Giang: Đài thơm 8 5.800 – 6.000 đồng/kg; OM 18 5.800 – 6.000 đồng/kg; Nàng hoa 9 duy trì ở mức 5.600 – 5.800 đồng/kg; IR 504 ở mức 5.300 – 5.450 đồng/kg; OM 5451 ở mức 5.500 – 5.600 đồng/kg; IR 504 khô 6.500 đồng/kg.

Giá lúa nếp An Giang tươi 5.900 – 6.000 đồng/kg, khô 7.500 – 7.600 đồng/kg; nếp tươi Long An 6.200 – 6.400 đồng/kg, khô 7.700 đồng/kg.

Giá gạo nguyên liệu và thành phẩm vẫn ổn định, lần lượt ở mức 8.150 – 8.250 đồng/kg và 8.650 – 8.750 đồng/kg. Giá các mặt hàng phụ phẩm: Tấm IR 504 đứng ở mức 8.500 – 8.600 đồng/kg; cám khô 8.500 – 8.550 đồng/kg.

So với những ngày trước, lượng gạo nguyên liệu về ít hơn. Giao dịch trầm lắng do người mua ít. Thị trường lúa Hè Thu ổn định nhưng giao dịch lúa chậm, sức mua từ các thương lái và nhà máy không nhiều.

Giá gạo tại chợ lẻ: Gạo thường 11.500 đồng/kg – 12.500 đồng/kg; gạo thơm Jasmine 15.000 – 16.000 đồng/kg; gạo Sóc thường 14.000 đồng/kg; nếp ruột 14.000 – 15.000 đồng/kg; gạo Nàng Nhen 20.000 đồng/kg; gạo thơm thái hạt dài 18.000 – 19.000 đồng/kg; gạo Hương Lài 19.000 đồng/kg; gạo trắng thông dụng 14.000 đồng/kg; Nàng Hoa 17.500 đồng/kg; Sóc Thái 18.000 đồng/kg; gạo thơm Đài Loan 20.000 đồng/kg; gạo Nhật 20.000 đồng/kg; cám 7.000 – 8.000 đồng/kg.

Trên thị trường thế giới, giá chào bán gạo xuất khẩu 5% tấm ở mức 393 USD/tấn; gạo 25% tấm 378 USD/tấn, gạo 100% tấm 383 USD/tấn.

Tháng 8/2022, Bộ Nông nghiệp Hoa kỳ dự báo, sản lượng gạo toàn cầu niên vụ 2021 - 2022 sẽ tăng nhẹ so với dự báo trước đó. Nhập khẩu sẽ tăng cao do nhu cầu cao hơn từ Bangladesh, Philippines và Iraq. Tương tự, xuất khẩu cũng cao hơn một chút do sự gia tăng xuất khẩu đến từ Ấn Độ và Thái Lan.