(CHG) Mới đây, Nhà thuốc H. (phường 7, thành phố Trà Vinh) bị lực lượng quản lý thị trường tỉnh Trà Vinh xử phạt số tiền 15 triệu đồng về hành vi bán thuốc kê đơn mà không có đơn thuốc, vi phạm quy định trong bán lẻ thuốc tân dược.
Lực lượng chức năng lập biên bản xử phạt nhà thuốc vi phạm.
Thực hiện chỉ đạo của Cục Quản lý thị trường tỉnh Trà Vinh về việc tăng cường kiểm tra, kiểm soát các mặt hàng vật tư y tế và thuốc chữa bệnh trên địa bàn, Đội Quản lý thị trường số 4 (ngày 11/5 vừa qua) đã kiểm tra đột xuất Nhà thuốc H. (số 122 Phan Đình Phùng, phường 7, Thành phố Trà Vinh) do ông T.H. làm chủ đại diện.
Lực lượng chức năng phát hiện cơ sở này bán thuốc kê đơn Stadovas 5 CAP (Amlodipine 5mg) sản xuất tại Công ty TNHH LD Stellpharm Chi nhánh 1 với số lượng 01 hộp (30 viên/hộp) giá bán 22.000 đồng/hộp cho khách hàng vào ngày 11/5/2023 mà không có đơn thuốc.
Hành vi trên vi phạm quy định của Nhà nước trong bán lẻ thuốc tân dược. Đội Quản lý thị trường số 4 đã lập biên bản và xử phạt vi phạm hành chính ông T.H. số tiền 15 triệu đồng.
Thực tế cho thấy, việc người dân đi mua thuốc không cần đơn diễn ra khá phổ biến. Còn đối với các nhà thuốc, trước nhu cầu, lợi nhuận cao, nhân viên bán hàng đã “ngó lơ” các quy định để kinh doanh trái luật.
Trước sự việc trên, lực lượng chức năng đã vào cuộc xử lý nghiêm các vi phạm, đồng thời, tuyên truyền, phổ biến các quy định trong lĩnh vực dược để các nhà thuốc nắm bắt, thực hiện tốt.
Thuốc là loại hàng hóa đặc biệt, có thể ảnh hưởng đến sức khỏe và tính mạng của người bệnh nếu sử dụng không đúng chỉ dẫn của bác sĩ. Do đó, không lạm dụng khi sử dụng các loại thuốc Tây, chỉ dùng khi có chỉ định của bác sĩ sau khi được thăm khám, kê đơn. Không tự ý mua thuốc về uống vì có nguy cơ rủi ro cho sức khỏe và tính mạng.
Tại điểm đ, khoản 3, Điều 59 Nghị định số 117/2020/NĐ-CP quy định: Phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng đối với hành vi “bán thuốc kê đơn khi không có đơn thuốc”, đồng thời áp dụng hình thức xử phạt bổ sung tại điểm đ, khoản 8 điều này: “Đình chỉ hoạt động của cơ sở trong thời hạn từ 06 tháng đến 09 tháng đối với hành vi quy định tại các điểm đ khoản 3 Điều này”. |