Tỉnh Bắc Giang khắc phục “điểm nghẽn”, tạo điều kiện thuận lợi cho phát triển kinh tế - xã hội bền vững


CHG - Tỉnh Bắc Giang thuộc vùng Trung du và miền núi Bắc Bộ; nằm trong Quy hoạch vùng Thủ đô Hà Nội, trên hành lang kinh tế Nam Ninh (Trung Quốc) - Lạng Sơn - Hà Nội - Hải Phòng - Quảng Ninh. Với vị trí chiến lược, Bắc Giang được xác định là cửa ngõ kết nối vùng Trung du và miền núi Bắc Bộ với Thủ đô Hà Nội, các trung tâm kinh tế lớn của vùng đồng bằng sông Hồng và miền Bắc.

Từ sau Đại hội XIII của Đảng đến nay, tình hình thế giới và khu vực có nhiều diễn biến phức tạp, khó lường, các thách thức mang tính toàn cầu, như chiến tranh, xung đột, tranh chấp biển, đảo; các vấn đề về biến đổi khí hậu, thiên tai, dịch bệnh và cả những tiến bộ của khoa học - công nghệ đã tác động, ảnh hưởng mạnh mẽ tới đời sống kinh tế - xã hội của đất nước. Đối với Đảng bộ tỉnh Bắc Giang, cấp ủy, chính quyền và nhân dân các dân tộc trong tỉnh triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh lần thứ XIX, nhiệm kỳ 2020 - 2025 và Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng trong bối cảnh nhiều khó khăn, thách thức hơn thuận lợi, có khó khăn, thách thức mới xuất hiện chưa từng có tiền lệ; song với sự quyết tâm, đổi mới sáng tạo, đoàn kết, chung sức, đồng lòng của cả hệ thống chính trị, cộng đồng doanh nghiệp và nhân dân các dân tộc, tỉnh Bắc Giang đã có giải pháp sáng tạo, thích ứng linh hoạt, từng bước vượt qua khó khăn và tiếp tục thực hiện hiệu quả nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội. Nhiều chỉ tiêu chủ yếu của Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh lần thứ XIX hoàn thành và hoàn thành vượt mức. Tăng trưởng kinh tế bình quân giai đoạn 2021 - 2023 ước đạt 14%/năm, đạt mục tiêu Nghị quyết Đại hội đề ra, ở trong nhóm các tỉnh, thành phố dẫn đầu cả nước; quy mô tổng sản phẩm trên địa bàn (GRDP) năm 2023 vươn lên thứ 12 cả nước, vượt mục tiêu đề ra; môi trường đầu tư, kinh doanh được cải thiện, lần đầu tiên chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI) năm 2022 đứng thứ 2 cả nước; kết quả chuyển đổi số, chất lượng giáo dục - đào tạo, chỉ số cải cách hành chính (PAR Index) luôn nằm trong nhóm 10 tỉnh, thành phố đứng đầu cả nước; là tỉnh đầu tiên trong cả nước được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Quy hoạch tỉnh thời kỳ 2021 - 2030, tầm nhìn đến năm 2050; cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng tích cực, khẳng định rõ vai trò động lực chính thúc đẩy tăng trưởng; hạ tầng giao thông có bước phát triển mang tính đột phá cả về mạng lưới, quy mô và chất lượng đầu tư; các lĩnh vực văn hóa, xã hội có nhiều tiến bộ; chính sách an sinh xã hội được quan tâm thực hiện tốt; đời sống của nhân dân được nâng lên rõ rệt; quốc phòng, an ninh được bảo đảm; tình hình an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội được giữ vững. Công tác xây dựng Đảng, xây dựng hệ thống chính trị được tăng cường. Lòng tin của nhân dân vào sự lãnh đạo của cấp ủy, chính quyền các cấp được nâng lên; khối đại đoàn kết toàn dân được củng cố vững chắc; đời sống của nhân dân ngày càng được cải thiện. Hình ảnh, vị thế của tỉnh tiếp tục được khẳng định và nâng lên tầm cao mới,...

Ủy viên Bộ Chính trị, Chủ tịch Quốc hội Vương Đình Huệ thăm dây chuyền sản xuất của doanh nghiệp FDI ở Khu Công nghiệp Quang Châu, huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang_Ảnh: TTXVN

Để đạt được những kết quả trên, ngay từ khi chuẩn bị tiến tới Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh lần thứ XIX, nhiệm kỳ 2020 - 2025, Tỉnh ủy đã chỉ đạo nghiêm túc việc tập trung phân tích, đánh giá tình hình thực hiện Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh lần thứ XVIII, nhiệm kỳ 2015 - 2020; trong đó, trọng tâm là phân tích, xác định rõ bất cập, hạn chế; thẳng thắn chỉ rõ những “điểm nghẽn” cản trở sự phát triển, đó là: 1- Tỉnh Bắc Giang tuy thuộc vùng Trung du và miền núi Bắc Bộ, đồng thời là tỉnh nằm trong vùng Thủ đô Hà Nội, nhưng tính liên kết vùng của tỉnh còn yếu; 2- Công tác quy hoạch, xác định phương hướng phát triển, sắp xếp không gian và phân bổ nguồn lực cho các hoạt động kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh, bảo vệ môi trường còn lúng túng, chưa có tính định hướng tổng thể; 3- Kết cấu hạ tầng, nhất là hạ tầng giao thông còn thiếu đồng bộ, chưa có tính đột phá để tăng cường kết nối; 4- Môi trường đầu tư và thu hút đầu tư chưa bắt kịp với xu hướng, chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh còn thấp, là rào cản lớn trong thu hút đầu tư; 5- Tỉnh có nguồn lực lao động dồi dào, tuy nhiên trình độ và chất lượng lao động chưa cao.

Từ việc nhận diện những “điểm nghẽn”, nút thắt nêu trên, Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh lần thứ XIX xác định 4 nhiệm vụ trọng tâm mang tính giải pháp đột phá trong nhiệm kỳ 2020 - 2025, bao gồm:

Một là, xây dựng Đảng và hệ thống chính trị từ tỉnh đến cơ sở thực sự vững mạnh, hạt nhân lãnh đạo là các tổ chức đảng thực sự vững mạnh về chính trị, tư tưởng, đạo đức, tổ chức và cán bộ. Trong đó, hạt nhân của hạt nhân là đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý, nhất là người đứng đầu và cán bộ lãnh đạo chủ chốt cấp ủy, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội các cấp. Thực hiện thường xuyên và đồng bộ, liên thông công tác quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng, đánh giá sàng lọc và bố trí, sắp xếp để đội ngũ cán bộ đảm nhiệm và phát huy phẩm chất, năng lực công tác; mặt khác, kiên quyết xử lý nghiêm cán bộ tham nhũng, tiêu cực, suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống.

Hai là, tiếp tục bổ sung, hoàn thiện cơ chế, chính sách phù hợp với thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và tình hình thực tế của địa phương để tập trung xây dựng môi trường kinh tế, môi trường đầu tư và kinh doanh nhằm khuyến khích phát triển tất cả thành phần kinh tế dựa trên nguyên tắc bình đẳng và minh bạch.

Ba là, tập trung xây dựng hệ thống kết cấu hạ tầng kinh tế và xã hội đồng bộ, ưu tiên hạ tầng giao thông trọng điểm, hạ tầng khu công nghiệp, hạ tầng thủy lợi trọng yếu, hạ tầng đô thị và du lịch, hạ tầng giáo dục và y tế thiết yếu, hạ tầng công nghệ thông tin - công nghệ số, tạo nền tảng để phát triển kinh tế số và xã hội số.

Bốn là, chú trọng đào tạo, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực của tỉnh đáp ứng yêu cầu thời kỳ mới, tập trung đào tạo lao động có tay nghề, kỹ thuật, chất lượng cao, góp phần tăng năng suất lao động, sức cạnh tranh của nền kinh tế và tạo dựng môi trường đầu tư, kinh doanh thuận lợi để thu hút đầu tư.

Sau Đại hội, Tỉnh ủy Bắc Giang ban hành Chương trình hành động số 03-CTr/TU, ngày 4-12-2020, về “Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh lần thứ XIX, nhiệm kỳ 2020 - 2025”; Chương trình hành động số 15-CTr/TU, ngày 31-5-2021, về “Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng”. Trong đó, xác định rõ mục tiêu, nhiệm vụ cụ thể trên các lĩnh vực, phân công rõ trách nhiệm cho từng cơ quan, đơn vị chịu trách nhiệm thực hiện với lộ trình, thời gian hoàn thành cụ thể để tập trung lãnh đạo, chỉ đạo trong cả nhiệm kỳ. Tỉnh ủy, Ban Thường vụ Tỉnh ủy ban hành 41 văn bản để cụ thể hóa việc thực hiện Nghị quyết Đại hội. Đồng thời, căn cứ Chương trình hành động, tình hình thực tế và chỉ đạo của Trung ương, từ đầu nhiệm kỳ đến nay, Tỉnh ủy, Ban Thường vụ Tỉnh ủy ban hành 156 văn bản lãnh đạo, chỉ đạo toàn diện trên tất cả lĩnh vực để thực hiện Nghị quyết Đại hội XIX của Đảng bộ tỉnh, gắn với thực hiện Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng và các chương trình, kế hoạch, văn bản triển khai thực hiện nghị quyết, chỉ thị, kết luận của Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư. Đây là những văn bản quan trọng, thể hiện rõ chủ trương, định hướng phát triển của tỉnh đối với từng ngành, lĩnh vực và là căn cứ để các cấp, các ngành tổ chức triển khai thực hiện. Đồng thời, tỉnh cũng chỉ đạo các cấp ủy cụ thể hóa nghị quyết đại hội đại biểu đảng bộ các cấp, Nghị quyết Đại hội XIX của Đảng bộ tỉnh và Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng thành chương trình, kế hoạch cụ thể, phù hợp với điều kiện của từng địa phương, đơn vị để triển khai thực hiện. Nhìn chung, các chỉ thị, nghị quyết, chương trình, đề án, kế hoạch của tỉnh và của các địa phương, đơn vị xác định rõ định hướng phát triển, nhiệm vụ, lĩnh vực trọng tâm cần tập trung lãnh đạo, chỉ đạo, xác định rõ lộ trình, nguồn lực, trách nhiệm trong tổ chức thực hiện ở từng cấp, từng ngành, đơn vị, bảo đảm đồng bộ, có tính khả thi cao.

Triển khai thực hiện, Tỉnh ủy, Ban Thường vụ Tỉnh ủy xác định rõ các nội dung trọng tâm, trọng điểm để tập trung chỉ đạo thông qua việc ban hành các nghị quyết của Tỉnh ủy về nhiệm vụ lãnh đạo hằng năm. Đặc biệt, kể từ năm 2022, Thường trực Tỉnh ủy xác định phát huy vai trò đầu tàu gương mẫu trước hết thể hiện qua sự nêu gương của các đồng chí lãnh đạo chủ chốt của tỉnh. Đây là điểm mới, có tính sáng tạo khi lần đầu tiên, lãnh đạo chủ chốt của tỉnh tổ chức hội nghị bàn, thống nhất nhiệm vụ trọng tâm, chiến lược để giao cho từng đồng chí Thường trực Tỉnh ủy, lãnh đạo Hội đồng nhân dân và lãnh đạo Ủy ban nhân dân tỉnh (năm 2022 giao 32 nhiệm vụ, năm 2023 tiếp tục giao 35 nhiệm vụ). Các đồng chí lãnh đạo chủ chốt của tỉnh, căn cứ nhiệm vụ được giao để cụ thể hóa thành chương trình, kế hoạch công tác, đề ra lộ trình, mốc thời gian hoàn thành; quyết tâm triển khai thực hiện nhiệm vụ với tinh thần phấn đấu năm sau đạt kết quả tốt hơn, cao hơn năm trước. Việc lần đầu tiên thực hiện giao nhiệm vụ cho lãnh đạo chủ chốt tỉnh có tác dụng nêu gương, lan tỏa mạnh mẽ tinh thần đổi mới, sáng tạo; nhiều huyện ủy, thành ủy, sở, ngành đã học tập cách làm của Thường trực Tỉnh ủy, xác định và giao nhiệm vụ trọng tâm cần tập trung thực hiện cho từng đồng chí lãnh đạo chủ chốt của địa phương, cơ quan, đơn vị.

Thúc đẩy liên kết vùng luôn là một trong những nhiệm vụ được ưu tiên hàng đầu trong phát triển kinh tế - xã hội ở nước ta thời gian qua. Đại hội XIII của Đảng xác định một trong những nhiệm vụ trọng tâm là phát triển đồng bộ và tạo ra sự liên kết giữa các khu vực, các vùng, các thành phần kinh tế, loại hình sản xuất, kinh doanh. Bám sát quan điểm chỉ đạo nêu trên, đồng thời nhận thức rõ vị trí chiến lược của tỉnh là một ưu thế cần được tập trung khai thác nhằm đẩy mạnh phát triển kinh tế - xã hội, tỉnh đã chủ động trong việc liên kết, phối hợp với các tỉnh, nhất là các tỉnh giáp ranh thực hiện ký kết biên bản ghi nhớ, kết luận hợp tác. Năm 2022, Ban Thường vụ Tỉnh ủy Bắc Giang, Ban Thường vụ Tỉnh ủy Hải Dương, Ban Thường vụ Tỉnh ủy Quảng Ninh đã ký Kết luận số 352-KL/TUQN-TUBG-TUHD, ngày 10-3-2022, về việc triển khai các biện pháp thúc đẩy liên kết vùng giữa 3 tỉnh Quảng Ninh - Bắc Giang - Hải Dương giai đoạn 2022 - 2025. Năm 2023, tỉnh cũng chủ động tổ chức làm việc và thực hiện ký kết hợp tác với các tỉnh Bắc Ninh, Hải Dương, Thái Nguyên, Lạng Sơn về việc triển khai các biện pháp phối hợp, liên kết phát triển trong giai đoạn 2023 - 2025 và những năm tiếp theo. Nội dung hợp tác trọng tâm là xây dựng hệ thống chính trị; phối hợp triển khai thực hiện các cơ chế, chính sách của Trung ương; đề xuất ban hành cơ chế, chính sách; công tác quy hoạch; chuyển đổi số, cải cách hành chính; kết nối hạ tầng giao thông; liên kết phát triển các lĩnh vực sản xuất, các lĩnh vực văn hóa, xã hội; phối hợp giải quyết các vấn đề liên vùng về môi trường...

Dây chuyền chế biến, đóng hộp vải thiều xuất khẩu tại Công ty cổ phần Xuất nhập khẩu thực phẩm Toàn Cầu ở huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang_Ảnh: TTXVN

Ngay từ đầu nhiệm kỳ, tỉnh xác định công tác quy hoạch có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, cần có quy hoạch đi trước dẫn đường với tầm nhìn dài hạn, làm cơ sở phân bố không gian, nguồn lực khoa học, phù hợp điều kiện thực tiễn bảo đảm cho phát triển kinh tế - xã hội bền vững. Chính vì vậy, Tỉnh ủy, Ban Thường vụ Tỉnh ủy đã tập trung quyết liệt chỉ đạo công tác xây dựng quy hoạch tỉnh thời kỳ 2021 - 2030, tầm nhìn đến năm 2050 với sự vào cuộc của cả hệ thống chính trị từ tỉnh đến cơ sở. Kết quả, tỉnh Bắc Giang là tỉnh đầu tiên được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt quy hoạch tỉnh đầu năm 2022. Việc Quy hoạch tỉnh được phê duyệt đã tạo hành lang pháp lý và điều kiện thuận lợi để tỉnh xây dựng các kế hoạch phát triển, thu hút đầu tư, mở ra các định hướng, không gian phát triển mới với tầm nhìn dài hạn.

Xác định kinh tế - xã hội chỉ phát triển bền vững khi có kết cấu hạ tầng đồng bộ nên tỉnh Bắc Giang tập trung cao cho việc đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng kỹ thuật, trong đó trọng tâm là hạ tầng giao thông. Từ đầu nhiệm kỳ đến nay, tỉnh đã tích cực phối hợp với các bộ, ngành, các tỉnh, thành phố đề xuất với Trung ương quy hoạch các tuyến cao tốc, quốc lộ, đường vành đai để tăng cường liên kết vùng, kết nối các trung tâm kinh tế, các vùng động lực; đồng thời, tập trung tối đa nguồn lực ưu tiên phát triển hạ tầng giao thông. Trong giai đoạn 2021 - 2025, theo kế hoạch tỉnh bố trí khoảng gần 40.000 tỷ đồng (gấp hơn 2 lần so với nhiệm kỳ trước) để đầu tư xây dựng, cải tạo, nâng cấp các công trình giao thông, đến nay, nhiều tuyến đường cũ, nhỏ hẹp, xuống cấp được cải tạo, mở rộng, nhiều công trình giao thông kết nối đối nội, đối ngoại quan trọng được đầu tư, hoàn thành mở ra không gian, động lực phát triển mới. Cùng với đó, hạ tầng các khu công nghiệp tiếp tục được quan tâm đầu tư. Hạ tầng đô thị được quan tâm sắp xếp và xây dựng bảo đảm phù hợp với xu thế phát triển trong tình hình mới. Chú trọng đầu tư phát triển hạ tầng công nghệ thông tin - công nghệ số, tạo nền tảng để phát triển kinh tế số và xã hội số (chỉ số chuyển đổi số tỉnh Bắc Giang (DTI) những năm gần đây luôn nằm trong nhóm 10 tỉnh, thành phố đứng đầu cả nước).

Việc cải thiện môi trường đầu tư, nâng cao năng lực cạnh tranh cấp tỉnh được quan tâm, chỉ đạo quyết liệt và sát sao. Ban Thường vụ Tỉnh ủy đã ban hành Nghị quyết số 105-NQ/TU, ngày 28-4-2021, “về cải thiện môi trường đầu tư, kinh doanh và nâng cao chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh trên địa bàn tỉnh, giai đoạn 2021 - 2025”, trong đó xác định mục tiêu chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI) nằm trong nhóm 15 tỉnh/thành phố dẫn đầu cả nước (bình quân mỗi năm tăng khoảng 3 bậc). Với sự nỗ lực, quyết tâm của cả hệ thống chính trị, các cấp, các ngành, các địa phương, đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức các cấp; môi trường đầu tư, kinh doanh của tỉnh có sự cải thiện rõ rệt; chỉ số PCI năm 2022 tăng 29 bậc so với năm 2021, xếp thứ 2/63 tỉnh, thành phố. Kết quả đó góp phần quan trọng thúc đẩy thu hút đầu tư, tăng trưởng kinh tế, đồng thời nâng cao hình ảnh, vị thế, uy tín của tỉnh. Kể từ đầu nhiệm kỳ đến nay, thu hút đầu tư của tỉnh luôn duy trì trong nhóm tỉnh, thành phố có kết quả thu hút đầu tư đứng đầu cả nước. Từ đầu năm 2021 đến nay, toàn tỉnh thu hút được xấp xỉ 5 tỷ USD vốn đầu tư quy đổi, bằng trên 80% cả giai đoạn 2016 - 2020. Thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) luôn nằm trong nhóm các tỉnh, thành phố dẫn đầu cả nước. Lũy kế đến nay, toàn tỉnh có 1.340 dự án đầu tư trong nước và 654 dự án FDI còn hiệu lực với tổng vốn đầu tư đạt 96.705 tỷ đồng và 11,2 tỷ USD, đứng thứ 11/63 tỉnh, thành phố thu hút vốn FDI.

Nguồn lực về lao động là một trong các yếu tố then chốt để đẩy mạnh và duy trì phát triển kinh tế - xã hội bền vững. Với lợi thế đang trong thời kỳ dân số vàng, nguồn lực lao động dồi dào, tuy nhiên tỉnh xác định cần nâng cao chất lượng nguồn nhân lực để phù hợp với xu thế kinh tế thị trường trong thời kỳ mới, đáp ứng yêu cầu phát triển, góp phần tăng năng suất lao động và sức cạnh tranh của nền kinh tế và tạo dựng môi trường đầu tư, kinh doanh thuận lợi để thu hút đầu tư. Tỉnh ủy ban hành Kế hoạch số 20-KH/TU, ngày 9-6-2021, về đào tạo, nâng cao chất lượng nguồn lao động của tỉnh đáp ứng yêu cầu trong thời kỳ mới với mục tiêu phát triển nguồn nhân lực dựa trên cơ sở nhu cầu của thị trường lao động và có cơ cấu hợp lý; trọng tâm là đào tạo, nâng cao chất lượng nguồn lao động tham gia sản xuất công nghiệp, nông nghiệp công nghệ cao, du lịch, dịch vụ; bảo đảm đủ về số lượng, nâng cao chất lượng, phục vụ hiệu quả nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh. Đẩy mạnh phát triển nguồn lao động qua đào tạo có kỹ năng nghề, nhất là người lao động có tay nghề cao, bằng cấp, chứng chỉ đạt yêu cầu thời kỳ mới; góp phần nâng cao năng suất lao động, tăng năng lực cạnh tranh của tỉnh.

Từ thực tiễn công tác lãnh đạo, chỉ đạo và tổ chức thực hiện sau nửa nhiệm kỳ thực hiện Nghị quyết Đại hội XIX của Đảng bộ tỉnh, Tỉnh ủy Bắc Giang rút ra 5 bài học kinh nghiệm sau:

Thứ nhất, luôn bám sát, quán triệt và triển khai thực hiện nghiêm túc quan điểm, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; vận dụng linh hoạt, sáng tạo vào tình hình, điều kiện thực tiễn của địa phương. Trong lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành phải không ngừng đổi mới tư duy, phương pháp, khả năng dự báo và tầm nhìn dài hạn, với quyết tâm cao, nỗ lực lớn, hành động quyết liệt; đồng thời, phải vừa kiên trì theo đuổi mục tiêu, vừa linh hoạt, sáng tạo trong tổ chức thực hiện.

Thứ hai, thực hiện nghiêm quy chế hoạt động, các nguyên tắc tổ chức, sinh hoạt đảng, nhất là nguyên tắc tập trung dân chủ. Ban hành đồng bộ, kịp thời, đầy đủ văn bản lãnh đạo, chỉ đạo toàn diện trên các lĩnh vực để tạo sự thống nhất trong quá trình thực hiện. Lấy thực tiễn làm thước đo, kịp thời đề ra chủ trương, giải pháp, cơ chế, chính sách tháo gỡ khó khăn, vướng mắc, điểm nghẽn, nút thắt trên các lĩnh vực để khơi thông nguồn lực, tạo động lực mới thúc đẩy sự phát triển.

Thứ ba, thường xuyên quan tâm xây dựng, tăng cường sự đoàn kết, thống nhất, dân chủ thật sự trong Đảng. Phát huy sự đoàn kết toàn dân, toàn diện, huy động sự vào cuộc tích cực của cả hệ thống chính trị và toàn dân tham gia thực hiện nhiệm vụ chính trị của địa phương. Luôn xác định rõ vị trí, vai trò trung tâm, chủ thể của nhân dân, bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của nhân dân; từ đó tăng cường đồng thuận xã hội, củng cố niềm tin của nhân dân với cấp ủy, chính quyền, xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân ngày càng vững chắc.

Thứ tư, phát huy tối đa nội lực, tranh thủ hiệu quả nguồn lực bên ngoài. Đẩy mạnh các hoạt động hợp tác, liên kết, tranh thủ sự ủng hộ, hỗ trợ, giúp đỡ tích cực của Trung ương và các địa phương trong nước và ngoài nước; đặc biệt, khơi dậy và phát huy nội lực, nguồn lực nhân tố con người, trước hết là vai trò, trách nhiệm nêu gương của đội ngũ cán bộ, đảng viên, nhất là người đứng đầu, quyết tâm xây dựng tỉnh Bắc Giang ngày càng giàu mạnh, văn minh.

Thứ năm, tăng cường kiểm tra, giám sát, thanh tra toàn diện trên các lĩnh vực từ công tác lãnh đạo, chỉ đạo đến khâu tổ chức thực hiện để kịp thời phát hiện, chấn chỉnh ngay vi phạm từ khi mới phát sinh, không để vi phạm nhỏ tích tụ thành khuyết điểm, sai phạm lớn. Phát động các phong trào thi đua sôi nổi, rộng khắp để kịp thời phát hiện, biểu dương, khen thưởng và nhân rộng các điển hình, mô hình, cách làm mới, hiệu quả, tập thể, cá nhân có thành tích xuất sắc.

Tiếp tục phát huy kết quả đạt được, khắc phục hạn chế, “điểm nghẽn” tạo điều kiện thuận lợi cho phát triển kinh tế - xã hội bền vững để thực hiện thắng lợi toàn diện Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh lần thứ XIX, góp phần thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng, từ nay đến hết nhiệm kỳ, tỉnh Bắc Giang sẽ tập trung thực hiện một số nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm sau:

Một là, bám sát và triển khai thực hiện nghiêm túc, hiệu quả chủ trương, nghị quyết của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, sự lãnh đạo, chỉ đạo của Trung ương, trong đó chú trọng gắn kết chặt chẽ giữa thực hiện mục tiêu, nhiệm vụ, giải pháp nửa nhiệm kỳ còn lại với thực hiện Nghị quyết số 11-NQ/TW, ngày 10-2-2022, của Bộ Chính trị, “về phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh vùng Trung du và miền núi Bắc Bộ đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045”. Tập trung, phấn đấu hoàn thành và hoàn thành vượt mức 11 nhóm chỉ tiêu Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh lần thứ XIX đề ra.

Tiếp tục quán triệt sâu sắc và thực hiện tốt 6 định hướng phát triển, 5 nhóm nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu, 4 nhiệm vụ trọng tâm đột phá được xác định tại Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh lần thứ XIX; các nghị quyết, chỉ thị, đề án, kết luận của Tỉnh ủy, Ban Thường vụ Tỉnh ủy. Thống nhất và thực hiện tốt quan điểm phát triển kinh tế - xã hội là trung tâm; xây dựng Đảng là then chốt; phát triển văn hóa là nền tảng tinh thần; bảo đảm quốc phòng, an ninh là trọng yếu, thường xuyên. Tiếp tục thực hiện tốt phương châm “Đoàn kết - Dân chủ - Kỷ cương - Sáng tạo” trong toàn Đảng bộ tỉnh. Nâng cao tính chủ động, sáng tạo, linh hoạt, phát huy nội lực, đặc biệt là nhân tố con người nhằm tạo động lực, lợi thế cạnh tranh, tạo đột phá trong phát triển tỉnh.

Hai là, các cấp, các ngành chủ động, tăng cường phối hợp chặt chẽ, đồng bộ, hiệu quả, nâng cao trách nhiệm, nỗ lực phấn đấu vì mục tiêu và sự phát triển chung của tỉnh. Phát huy vai trò, trách nhiệm của từng cơ quan, đơn vị, địa phương, nhất là người đứng đầu trong thực hiện nhiệm vụ. Cán bộ, đảng viên, người đứng đầu, cấp ủy, tổ chức đảng, cơ quan, đơn vị thực hiện nghiêm túc, hiệu quả phương châm “3 dám”(dám nói, dám làm, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung), “3 hơn” (quyết liệt hơn, linh hoạt hơn, hiệu quả hơn), “5 rõ” (rõ người, rõ việc, rõ tiến độ, rõ trách nhiệm và rõ kết quả) theo tinh thần Chỉ thị số 26-CT/TU, ngày 2-6-2023, của Ban Thường vụ Tỉnh ủy, “về chấn chỉnh tác phong, lề lối làm việc và nâng cao trách nhiệm trong thực thi nhiệm vụ đáp ứng yêu cầu trong tình hình mới”.

Ba là, lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện tốt các đột phá chiến lược về hoàn thiện thể chế, cơ chế, chính sách; đầu tư phát triển hạ tầng; nâng cao chất lượng nguồn nhân lực. Thường xuyên rà soát, kịp thời phát hiện và chỉ đạo quyết liệt, tháo gỡ khó khăn, vướng mắc, nút thắt, điểm nghẽn cản trở sự phát triển, nhất là trong công tác bồi thường, giải phóng mặt bằng, về cơ chế, chính sách... với tinh thần mọi khó khăn, vướng mắc đều phải có hướng tháo gỡ và phải được tháo gỡ kịp thời; bảo đảm các nhiệm vụ thuộc thẩm quyền được xử lý nhanh chóng, kịp thời, rút ngắn thời gian thực hiện, nâng cao hiệu lực, hiệu quả.

Đẩy mạnh phát triển toàn diện, đồng bộ các ngành kinh tế; tập trung nguồn lực đẩy mạnh phát triển kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội, trọng tâm là hạ tầng giao thông, đô thị, công nghiệp, dịch vụ; tập trung tháo gỡ khó khăn, vướng mắc trong giải phóng mặt bằng để đẩy nhanh tiến độ, rút ngắn thời gian thực hiện dự án. Tăng cường các biện pháp đẩy mạnh cải thiện môi trường đầu tư, kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh của tỉnh. Tiếp tục đẩy mạnh và nâng cao chất lượng thu hút đầu tư, lựa chọn nhà đầu tư chiến lược, thật sự có năng lực và các dự án đầu tư chất lượng, phù hợp với yêu cầu và định hướng phát triển bền vững của tỉnh. Tiếp tục quan tâm chỉ đạo phát triển toàn diện các lĩnh vực giáo dục, y tế, văn hóa, xã hội.

Bốn là, chú trọng công tác xây dựng Đảng, xây dựng hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh. Nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của cấp ủy, tổ chức đảng; chú trọng đổi mới tư duy, nâng cao ý thức, trách nhiệm, tác phong, lề lối làm việc, tính tiên phong, gương mẫu của đội ngũ cán bộ, đảng viên, nhất là người đứng đầu. Tăng cường kỷ luật, kỷ cương, kiên quyết xử lý cán bộ năng lực hạn chế, thiếu trách nhiệm, đùn đẩy, né tránh công việc, có biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”. Tiếp tục chỉ đạo đẩy mạnh công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực; nâng cao hiệu quả hoạt động của Ban Chỉ đạo phòng, chống tham nhũng, tiêu cực tỉnh. Đổi mới và nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác tuyên truyền, công tác kiểm tra, giám sát, thi hành kỷ luật đảng, công tác dân vận. Tiếp tục đổi mới, nâng cao chất lượng, hiệu lực, hiệu quả hoạt động của chính quyền các cấp. Phát huy hơn nữa vai trò, hiệu quả hoạt động của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể. Tăng cường củng cố, phát huy sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân, vận động nhân dân tích cực tham gia thực hiện nhiệm vụ chính trị của địa phương./.

Nguồn: Tạp chí cộng sản

Còn lại: 1000 ký tự
Phát triển thị trường trái phiếu, hướng tới hệ thống tài chính cân bằng ở Việt Nam

CHG - Hệ thống tài chính của Việt Nam hiện đang có cấu trúc thiên lệch, dựa nhiều vào thị trường tín dụng - ngân hàng, trong khi thị trường cổ phiếu và trái phiếu phát triển chưa tương ứng. Trong thời gian tới, cần tiếp tục thực hiện các giải pháp thúc đẩy quá trình cơ cấu lại hệ thống tài chính theo hướng cân bằng hơn và đạt những mục tiêu có tính bền vững.

Xem chi tiết
Thanh toán qua ví điện tử của người dân tại Lạng Sơn: thực trạng và giải pháp

Đề tài Thanh toán qua ví điện tử của người dân tại Lạng Sơn: thực trạng và giải pháp do ThS. Ma Xuân Khánh (Công ty Cổ phần Đầu tư và Phát triển ETC) thực hiện.

Xem chi tiết
Hoàn thiện và phát triển Sở Giao dịch Hàng hóa Việt Nam

Đề tài Hoàn thiện và phát triển Sở Giao dịch Hàng hóa Việt Nam do PGS. TS. Vũ Sĩ Tuấn - SV. Đoàn Thị Thu Hiền - SV. Lại Bảo Ngọc - SV. Trương Cẩm Ly - SV. Sòi Nguyệt Minh - SV. Phạm Thị Vân Ngọc (Trường Đại học Ngoại Thương, TP. Hà Nội)

Xem chi tiết
Đổi mới mô hình tổ chức sản xuất nông nghiệp theo chuỗi giá trị dựa trên liên kết nhiều chủ thể - một số kinh nghiệm bước đầu từ thực tiễn tỉnh Quảng Ngãi

​CHG - Mô hình tổ chức phát triển nông nghiệp theo chuỗi giá trị ở tỉnh Quảng Ngãi thu được những kết quả bước đầu, hình thành mối liên kết chặt chẽ giữa sản xuất, chế biến và tiêu thụ,... Thành công đó khẳng định tính đúng đắn và hiệu quả trong việc xác định khâu phát triển đột phá của nông nghiệp tỉnh Quảng Ngãi nói riêng và cả nước nói chung. Do đó, cần tiếp tục nghiên cứu, phân tích mô hình tổ chức sản xuất nông nghiệp theo chuỗi giá trị ở tỉnh Quảng Ngãi.

Xem chi tiết
Phát triển kinh tế biển xanh - Định hướng cần thiết để phát triển bền vững kinh tế biển Việt Nam

CHG - Biển và hải đảo là không gian phát triển nhiều hoạt động kinh tế - xã hội quan trọng. Để bảo đảm biển và đại dương có khả năng cung cấp các nguồn tài nguyên tái tạo cùng với các dịch vụ môi trường và hệ sinh thái nhằm thỏa mãn nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội, xóa đói, giảm nghèo, không ngừng cải thiện cuộc sống của con người, cần một cách tiếp cận mới, bền vững là phát triển kinh tế biển xanh.

Xem chi tiết
2
2
2
3